Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Tính từ và trạng từ

Để nói đúng và viết chuẩn tiếng Anh ngữ pháp Anh văn căn bản trước tiên bạn cần phải hiểu rõ chức năng của từng loại từ trong câu, trong đó có tính từ và trạng ngữ. Thêm đó, nắm bắt vị trí và dấu hiệu nhận biết giữa 2 loại từ này cũng rất quan trọng để hoàn thiện các kỹ năng tiếng Anh của bạn. Trong bài học này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu về tính từ, trạng từ và các kiến thức xoay quanh 2 loại từ thông dụng này trong tiếng Anh
1. Tính từ
– Tính từ là từ chỉ tính chất, mức độ, phạm vi, … của một người hoặc vật. Nó bổ nghĩa cho danh từ, đại từ hoặc liên động từ (linking verb). Nó trả lời cho câu hỏiWhat kind?. Tính từ luôn đứng trước danh từ được bổ nghĩa: That is my new redcar.
– Trừ trường hợp “galore (nhiều, phong phú, dồi dào) và “general” trong tên các cơ quan, các chức vụ lớn là hai tính từ đứng sau danh từ được bổ nghĩa:
Ví dụ:
There were errors galore in your final test. (Có rất nhiều lỗi trong bài kiểm tra cuối kỳ của bạn)
UN Secretary General (Tổng thư ký Liên hợp quốc).
– Tính từ đứng sau các đại từ phiếm chỉ (something, anything, anybody…)
Ví dụ:
It’s something strange. (Thứ gì lạ thế)
He is somebody quite unknown. (Anh ấy là người khá im hơi lặng tiếng)
– Tính từ được chia làm 2 loại là tính từ mô tả (Descriptive adjective) và tính từ giới hạn (Limiting adjective). Tính từ mô tả là các tính từ chỉ màu sắc, kích cỡ, chất lượng của một vật hay người. Tính từ giới hạn là tính từ chỉ số lượng, khoảng cách, tính chất sở hữu, … Tính từ không thay đổi theo ngôi và số của danh từ mà nó bổ nghĩa, trừ trường hợp của “these” và “those”.
TÍNH TỪ MÔ TẢ
TÍNH TỪ GIỚI HẠN
beautiful
large
red
interesting
important
colorful
one, two
first, second
my, your, his
this, that, these, those
few, many, much
số đếm
số thứ tự
tính chất sử hữu
đại từ chỉ định
số lượng
– Khi tính từ mô tả bổ nghĩa cho một danh từ đếm được số ít, nó thường có mạo từ”aan” hoặc “the” đứng trước như:  a pretty girl, an interesting book, the red dress.
– Tính từ đi trước danh từ nhưng đi sau liên từ . Tính từ chỉ bổ nghĩa cho danh từ, đại từ và liên từ.
– Nếu trong một cụm từ có nhiều tính từ cùng bổ nghĩa cho một danh từ thì thứ tự các tính từ sẽ như sau: tính từ sở hữu hoặc mạo từ, opinion(ý kiến), size(kích cỡ), age(tuổi tác), shape(hình dáng), color(màu sắc), origin(nguồn gốc), material(chất liệu), purpose(mục đích). Chú ý rằng tính từ sở hữu (my, your, our) hoặc mạo từ (a, an, the) nếu có thì luôn đi trước các tính từ khác. Nếu đã dùng mạo từ thì không dùng tính từ sở hữu và ngược lại. Ví dụ về thứ tự sắp xếp các tính từ:
a silly young English man (Một người đàn ông người Anh trẻ khờ khạo)
the huge round metal bowl (Một cái bát bằng kim loại tròn to)

art/possopinionsizeageshapecolororiginmaterialpurposenoun
asillyyoungEnglishman
thehugeroundmetalbowl
mysmallredsleepingbag
2. Trạng từ (phó từ)
Phó từ bổ nghĩa cho động từ, cho một tính từ hoặc cho một phó từ khác. Nó trả lời cho câu hỏi How?
Ví dụ:
Rita drank too much. (How much did Rita drink?)
don’t play tenis very well. (How well do you play?)
He was driving carelessly. (How was he driving?)
John is reading carefully. (How is John reading?)
She speaks Spanish fluently. (How does she speak Spanish?)
– Thông thường, các tính từ mô tả có thể biến đổi thành phó từ bằng cách thêm đuôi-ly vào tính từ.
Ví dụ:  He is a careful driver. He always drives carefully.

TÍNH TỪ
PHÓ TỪ
bright
careful
quiet
brightly
carefully
quietly
Tuy nhiên, có một số tính từ không theo quy tắc trên:
*  Một số tính từ đặc biệt: good => well; hard => hard; fast => fast; …
Ví dụ:
She is a good singer. She sings very well.
*  Một số tính từ cũng có tận cùng là đuôi –ly (lovely, friendly) nên để thay thế cho phó từ của các tính từ này, người ta dùng: in a/ an + Adj + way/ manner.
Ví dụ:He is a friendly man. He behaved me in a friendly way.
Các từ sau cũng là phó từ: so, very, almost, soon, often, fast, rather, well, there, too. Các phó từ được chia làm 6 loại sau:
ADVERB OF

Trạng ngữ
EXAMPLE

Ví dụ
TELL US

Ý nghĩa
Manner(cách thức)happily, bitterlyhow something happens
Degree(mức độ)totally, completelyhow much ST happens, often go with an adjective
Frequency(tần suất)never, oftenhow often ST happens
Time(thời gian)recently, justwhen things happen
Place(nơi chốn)here, therewhere things happen
Disjunct (quan điểm)hopefully, franklyviewpoint and comments about things happen
–  Các phó từ thường đóng vai trò trạng ngữ  trong câu. Ngoài ra các ngữ giới từ cũng đóng vai trò trạng ngữ như phó từ, chúng bao gồm một giới từ mở đầu và danh từ đi sau để chỉ: địa điểm (at home), thời gian (at 5 pm), phương tiện (by train),tình huống, hành động. Các cụm từ này đều có chức năng và cách sử dụng như phó từ, cũng có thể coi là phó từ.
– Về thứ tự, các phó từ cùng bổ nghĩa cho một động từ thường xuất hiện theo thứ tự:manner, place, time. Nói chung, phó từ chỉ cách thức của hành động (manner – cho biết hành động diễn ra như thế nào) thường liên hệ chặt chẽ hơn với động từ so với phó từ chỉ địa điểm (place) và phó từ chỉ địa điểm lại liên kết với động từ chặt chẽ hơn phó từ chỉ thời gian (time).
Ví dụ:        The old woman sits quietly by the fire for hours.
– Về vị trí, các phó từ hầu như có thể xuất hiện bất cứ chỗ nào trong câu: cuối câu, đầu câu, trước động từ chính, sau trợ động từ nhưng cũng vì thế, nó là vấn đề khá phức tạp. Vị trí của phó từ có thể làm thay đổi phần nào ý nghĩa của câu.
3. Dấu hiệu nhận biết tính từ và trạng từ
Việc xác định đuôi tính từ (hay trạng từ) đóng một vai trò quan trọng trong việc trả lời câu hỏi.

3.1. Dấu hiệu nhận biết tính từ
  • Tận cùng là “able”: comparable, comfortable, capable, considerable
Ví dụ: (Ex): We select the hotel because the rooms are comfortable
  • Tận cùng là “ible”: responsible, possible, flexible
Ex: She is responsible for her son’s life
  • Tận cùng là “ous”: dangerous, humorous, notorious, poisonous
Ex: She is one of the most humorous actresses I’ve ever known
  • Tận cùng là “ive”: attractive, decisive
Ex: She is a very attractive teacher
  • Tận cùng là “ent”: confident, dependent, different
Ex: He is confident in getting a good job next week
  • Tận cùng là “ful”: careful, harmful, beautiful
Ex: Smoking is extremely harmful for your health
  • Tận cùng là “less”: careless, harmless
Ex: He is fired because of his careless attitude to the monetary issue
  • Tận cùng là “ant”: important
Ex: Unemployment is the important interest of the whole company
  • Tận cùng “ic”: economic, specific, toxic
Ex: Please stick to the specific main point
  • Tận cùng là “ly”: friendly, lovely, costly
Ex: Making many copies can be very costly for the company.
  • Tận cùng là “y”: rainy, sunny, muddy (đầy bùn), windy…
Ex: Today is the rainiest of the entire month
  • Tận cùng là “al”: economical (tiết kiệm), historical, physical…
Ex: Instead of driving to work, he has found out a more economical way to save money.
  • Tận cùng là “ing”: interesting, exciting, moving = touching (cảm động)
Ex: I can’t help crying because of the moving film.
  • Tận cùng là “ed”: excited, interested, tired, surprised…
Ex: He has been working so hard today, so he  is really exhausted.
3.2. Dấu hiệu nhận biết Trạng từ
Trạng từ kết cấu khá đơn giản:
Adv= Adj+ly: wonderfully, beautifully, carelessly…

Ex: She dances extremely beautifully.
Chúc các bạn  học tiếng Anh tốt 

LÀM SAO NGHE TIẾNG ANH TỐT

LÀM SAO NGHE TIẾNG ANH TỐT
Một trong những trở ngại lớn nhất của chúng ta khi học một ngoại ngữ ấy là chúng ta quá… thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm trong việc luyen toeic
Quá thông minh: vì mình không thể nào chấp nhận nghe một câu mà mình không hiểu: cần phải hiểu một câu nói gì trước khi nghe tiếp câu thứ hai, nếu không thì mình không buồn nghe noi tieng anh tiếp.

Quá kinh nghiệm: Cuộc đời đã dạy ta không nghe những gì người khác nói mà chỉ hiểu những gì mà nội dung chuyển tải. Nếu không hiểu nội dung, chúng ta không thể lặp lại lời người kia. Cũng vì thế mà - trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ - mỗi lần nghe một câu tiếng Anh thì trong đầu phải dịch ra được tiếng Việt thì mới yên tâm, bằng không thì … câu ấy không có nghĩa.
Thế nhưng, đấy là lối học sinh ngữ ngược chiều. Tôi biết được 6 ngôn ngữ, trong đó có ba ngôn ngữ thành thạo nghe nói đọc viết: Việt - Anh - Pháp, và tôi thấy rằng trong các ngôn ngữ tôi biết thì, một cách khách quan, nghe và nói tiếng Việt là khó nhất (vì ở phương tây, không có ngôn ngữ nào mà mình đổi cao độ của một từ thì ý nghĩa từ ấy lại thay đổi: ma - má - mà - mạ - mã - mả). Nhưng các bạn ở forum này, cũng như tôi, đều không có vấn đề gì cả với cái sinh ngữ khó vào bậc nhất ấy!
Thế nhưng những thầy cô dạy chúng ta nghe nói tiếng Việt chẳng phải là những vị chuyên viên ngôn ngữ như các thầy ngoại ngữ mà ta học tại các trường. Thầy dạy tiếng Việt chúng ta là tất cả những người quanh ta từ ngày ta ra đời: cha mẹ, anh chị, hàng xóm, bạn bè… nghĩa là đại đa số những người chưa có một giờ sư phạm nào cả, thậm chỉ không có một khái niệm nào về văn phạm tiếng Việt. Thế mà ta nghe tiếng Việt thoải mái và nói như sáo. Còn tiếng Anh thì không thể như thế được. Ấy là vì đối với tiếng Việt, chúng ta học theo tiến trình tự nhiên, còn ngoại ngữ thì ta học theo tiến trình phản tự nhiên.
Từ lúc sinh ra chúng ta đã nghe mọi người nói tiếng Việt chung quanh (mà chẳng bao giờ ta phản đối: "tôi chẳng hiểu gì cả, đừng nói nữa"! Mới sanh thì biết gì mà hiểu và phản đối!). Sau một thời gian dài từ 9 tháng đến 1 năm, ta mới nói những tiếng nói đầu tiên (từng chữ một), mà không hiểu mình nói gì. Vài năm sau vào lớp mẫu giáo mới học đọc, rồi vào lớp 1 (sáu năm sau khi bắt đầu nghe) mới tập viết… Lúc bấy giờ, dù chưa biết viết thì mình đã nghe đưọc tất cả những gì người lớn nói rồi (kể cả điều mình chưa hiểu). Như vậy, tiến trình học tiếng Việt của chúng ta là Nghe - Nói - Đọc - Viết. Giai đoạn dài nhất là nghe và nói, rồi sau đó từ vựng tự thêm vào mà ta không bao giờ bỏ thời gian học từ ngữ. Và ngữ pháp (hay văn phạm) thì đến cấp 2 mới học qua loa, mà khi qua hết trung học thì ta đã quên hết 90% rồi.
Nhưng tiến trình ta nghe toeic (hay bất cứ ngoại ngữ nào) thì hoàn toàn ngược lại.
Thử nhìn lại xem: Trước tiên là viết một số chữ và chua thêm nghĩa tiếng Việt nếu cần. Và kể từ đó, học càng nhiều từ vựng càng tốt, kế đến là học văn phạm, rồi lấy từ vựng ráp vào cho đúng với văn phạm mà VIẾT thành câu! Rồi loay hoay sửa cho đúng luật! Sau đó thì tập đọc các chữ ấy trúng được chừng nào hay chừng ấy, và nhiều khi lại đọc một âm tiếng Anh bằng một âm tiếng Việt! (ví dụ fire, fight, five, file… đều được đọc là ‘phai’ ). Sau đó mới tới giai đoạn NÓI, mà ‘nói’ đây có nghĩa là Đọc Lớn Tiếng những câu mình viết trong đầu mình, mà không thắc mắc người đối thoại có hiểu 'message' của mình hay không vì mình chỉ lo là nói có sai văn phạm hay không. Lúc bấy giờ mới khám phá rằng những câu mình viết thì ai cũng hiểu, như khi mình nói thì chỉ có mình và … Thượng Đế hiểu thôi, còn người bản xứ (tiếng Anh) thì ‘huh - huh’ dài cổ như cổ cò!
Sau thời gian dài thật dài, mình khám phá rằng mình từng biết tiếng Anh, và nói ra thì người khác hiểu tàm tạm, nhưng khi họ nói thì mình không nghe được gì cả (nghĩa là nghe không hiểu gì cả). Lúc bấy giờ mới tập nghe, và rồi đành bỏ cuộc vì cố gắng mấy cũng không hiểu được những gì người ta nói. phần mềm luyện thi toeic 

Kĩ năng để đạt điểm cao trong phần nghe hiểu TOEIC

Hôm nay mình xin chia sẻ với các bạn những kĩ năng để đạt điểm cao trong phần nghe hiểu TOEIC chiếm số điểm rất lớn và cũng là thử thách với rất nhiều sĩ tử luyện thi TOEIC!

Trước hết bạn cần hiểu hơn về cấu trúc phần thi NGHE TOEIC:
• Thời gian: 45 phút, 100 câu
• 4 phần thi nhỏ:
- Picture description: 10 câu
- Questions & Responses: 30 câu
- Short conversations: 30 câu
- Short talks: 30 câu
Với cấu trúc như vậy thì kỹ năng làm bài phần nghe cần được triển khai theo từng phần như dưới đây:
* Picture description:
- Có 2 thì rất thường được sử dụng: Thì hiện tại tiếp diễn (ở dạng chủ động: S + am/is/are + Ving; hoặc ở dạng bị động: S + am/is/are + being + V3). Thì hiện tại đơn.
- Khi nghe cần lưu ý:
+ Loại bỏ hẳn những lựa chọn sai.
+ Ghi chú ra giấy nháp những phương án có thể đúng.
+ Dùng phương pháp loại trừ.
- Khi xem tranh, phải lập tức nghĩ ra ngay TỪ VỰNG liên quan đến 3 vấn đề sau - đây chính là một trong những mẹo luyện nghe TOEIC rất hiệu quả:
+ Người/Vật trong tranh là ai/cái gì? (NOUN)
+ Họ đang làm gì? (ACTION VERB)
+ Họ đang ở đâu? Vị trí cụ thể? (POSITION)
Có 2 loại tranh:
+ Photos of people: Who are they? (Họ là ai?), Where are they? (Họ đang ở đâu?), What are they doing? (Họ đang làm gì?), What do they look like? (Họ trông như thế nào?).
+ Photos of things: what are they? (Chúng là cái gì?), Where are they? (Chúng đang ở vị trí nào?), What is being done to them? (chúng đang được làm gì?), What do they look like? (Chúng trông như thế nào?).
*Questions & Responses:
- Lưu ý 4 dạng câu:
+ Statements: xuống giọng ở cuối câu.
+ Yes/No Questions: lên giọng ở cuối câu.
+ WH Questions: xuống giọng ở cuối câu.
+ OR Questions (lựa chọn 1 OR lựa chọn 2): lên giọng ở lựa chọn 1, xuống giọng ở lựa chọn
- Mẹo làm bài:
+ Lưu ý ngữ điệu để đoán dạng câu hỏi.
+ Chỉ nghe “key words”.
+
A B C
Đặt bút chì ở vị trí phương án đúng, cho đến khi tìm được phương án chính xác hơn.
+ Dùng phương pháp loại trừ.
* Short conversations & Short talks:
- Mẹo làm bài:
+ Gạch dưới “key words”, đồng thời đọc thầm những “key words” này.
+ Đoán tình huống & chủ đề của bài đàm thoại, hoặc bài nói.
+ Đoán trước câu trả lời khi đọc các phương án lựa chọn.
+ Mỗi bài đàm thoại, hoặc bài nói có 3 câu hỏi thì người làm phải hoàn thành cả 3 câu hỏi trước khi người đọc câu hỏi đọc sang câu hỏi thứ 2. Khi đó, người làm lập tức đọc sang 3 câu hỏi của bài đàm thoại/bài nói chuyện tiếp theo.
Chúc các bạn luyện thi TOEIC thành công!

TOEIC LÀ GÌ? THỦ TỤC DỰ THI

 TOEIC LÀ GÌ? THỦ TỤC DỰ THI
Trước hết phải nói là đây đúng là 1 kỳ thi mang tính quốc tế, chưa xét về nội dung nhưng hình thức thì đúng vậy. Trước ngày hôm nay, kỳ thi “xịn” nhất mà tớ từng tham gia có lẽ là nằm ở lệ phí thi của nó. TOEIC mất đến gần 800k. Nhưng dù sao cũng xứng đáng bỏ ra từng đấy tiền để thử thi kiểu này một lần cho biết.
Đến đúng 8h30, sẽ có 1 chị giám thị mặc đồng phục đứng ở chân cầu thang tầng 1 gọi tên các thí sinh lên phòng thi.
Trước đấy, bạn sẽ được hướng dẫn là không được mang tư trang … vào phòng thi. Và đúng là chị này không nói đùa. Ngoài CMND, thẻ dự thi, bạn đừng nên có ý định mang thêm cái gì vào, dù là bút chì, tẩy hay di động. Có một tủ gửi đồ ngay ở phía bên phải, vì thế nếu các bạn mang nhiều đồ linh tinh, tớ khuyên các bạn nên nhanh chân chạy vào chiếm 1 tủ trước khi những thí sinh khác kịp nhận ra có tủ gửi đồ. Tớ cũng đã rất nhanh chân và chiếm nguyên 1 khoang tủ chỉ cho một mình cái di động của tớ.
Sau khi được gọi đến tên, bạn sẽ đưa CMND và thẻ dự thi cho giám thị đấy để kiểm tra “nhận dạng”. Chị ý sẽ soi từ ảnh trên thẻ dự thi sang ảnh trên CMND rồi sang mặt bạn. Xong một lượt, chị ý … lại tiến hành soi lượt 2. Và nhìn cái cách chị ý soi thì tớ đoán mọi dấu hiệu nhận dạng trên CMND của bạn (như nốt ruồi, sẹo…) sẽ không được bỏ qua. Bạn nào lỡ tẩy nốt ruồi rồi thì khéo khi xem xét việc dùng mực chấm tạm vào .

Kỳ thi này có lẽ là thủ tục cần dùng CMND nhiều lần nhất mà tớ từng tham gia. Có lẽ CMND của bạn sẽ được soi đến gần 5 lần. Một lời khuyên nữa ở đây là bạn nên đánh răng thật sạch buổi sáng trước khi thi để nụ cười thêm tươi.
Sau khi kiểm tra lần 1 ở tầng 1 xong, bạn lên tầng 2 để kiểm tra … lần 2. Điều ngạc nhiên lớn nhất suốt từ sáng đến h xuất hiện ở đây khi có 1 giám thị thứ 2 cầm cái máy kiểm tra đồ kim loại đứng chờ với nụ cười đon đả . Và một lần nữa tớ khuyên các bạn vứt hết các đồ linh tinh ở nhà, hoặc nếu vẫn còn chìa khóa.. trên người thì cầm hết ra ở tay, vì sau đấy bạn sẽ phải dang tay ra cho chị ý “dò”. Và thật xấu hổ là cái máy đấy kêu lên 4 lần vì tớ có:
- Cái khóa kéo bằng kim loại ở áo khoác
- Đồng hồ đeo tay ở túi ngực áo khoác
- Ví ở túi quần sau
- Chìa khóa xe và chìa khóa nhà ở túi trái quần.
Vậy tổng kết ở đoạn này: bạn không cần mang bút, tẩy, đồng hồ hay gì hết vì họ đã có sẵn cho bạn: bút chì của trung tâm (trông còn kém xịn hơn cái bút 2B mua ở ngoài, chỉ có điều nó có đủ các loại logo TOEIC, TOEFL…), tẩy (có lẽ để tiết kiệm nên tẩy được gắn ngay ở đuôi bút, hay nói cách thông thường là cái mẩu tẩy ở đít của bút chì). Tốt nhất là cho vào túi rồi gửi ở tủ hoặc nếu có người đèo thì nhờ họ cầm cho.
Sau khi “vượt qua” vòng 2 ở tầng 2, theo chỉ dẫn bạn lại lên tầng 3 để … kiểm tra lần 3. 2 chị giám thị nữa đứng ở cửa phòng thi. Cũng lại soi tên, CMND, mặt mũi. Vậy là bạn sẽ phải dùng đến nụ cười không dưới 2 lần đâu, cũng đáng để đánh răng rửa mặt cho kỹ.
Phòng thi cũng nhỏ nhỏ, tầm 30 người (tùy vào đăng ký) mỗi người được cho vào 1 cái hộp (bạn nào dùng phòng lab học ngoại ngữ thì biết rồi đấy, mỗi bàn được ngăn cách bằng mấy tấm gỗ, trông như cái hộp ấy). Ài, tin buồn là không có headphone riêng, mà các bạn sẽ nghe bằng loa chung treo trên tưởng, nhưng cũng ko lo vì âm thanh nghe cũng ổn. Và đúng là nên nghe loa ngoài, vì đeo headphone suốt 45 phút thì đầu có mà nổ mất.
Ở trên bàn mỗi thí sinh là 1 cái bút chì (nhấn mạnh lần nữa là có tẩy) và 2 tờ giấy. Xin nhắc nhở là các bạn đừng táy máy ghi gì vội, đừng như tớ miệt mài ghi vào cái tờ questionaire rồi lúc sau lại miệt mài tẩy đi vì … không phải đánh dấu vào đấy.
Sau khi thí sinh vào phòng hết, tất cả các giám thị sẽ “ùa” vào phòng. Các chị này mặc đồng phục gọn gàng, đeo bảng tên và hầu hết là buộc tóc đằng sau. Chi tiết này làm tớ nhớ lại hồi đi làm ở nhà hàng Nhật, tất cả nhân viên (kể cả con trai) phải dùng khăn buộc tóc lại để đề phòng tóc rơi vào thức ăn.
Dù sao, các chị ý sẽ đóng cửa lại, và bạn nào trót uống nước nhiều hay ăn đồ ăn nhiều nước buổi sáng (phở?) thì nên lên lịch “điều hòa dòng chảy”, vì bạn sẽ phải ngồi trong căn phòng kín mít đấy suốt gần 2 tiếng 45 phút, mà mỗi lần có ai đứng lên là cả phòng + 5 giám thị sẽ nhìn chằm chằm như thể chờ bạn lên tiếng … xin đi vệ sinh.
Sau đó, 1 chị sẽ đứng ở giữa phòng và bắt đầu lên tiếng giới thiệu về kỳ thi như 1 cái máy được thu âm. Bạn sẽ được hướng dẫn tỉ mỉ về cách điền phiếu thông tin, và sau khi điền xong, các giám thị sẽ đi lần lượt từng bàn để kiểm tra lại cho bạn, cộng thêm đối chiếu với CMND một lần nữa. Và 1 kinh nghiệm nữa cho bạn: tớ đc 1 chị nhắc là khi đánh dấu các ô tròn thì nên đưa đầu bút chì theo hình vòng tròn tô cái ô đấy, thay vì đưa đầu bút lên xuống theo kiểu các nét thẳng.
Sau khi kiểm tra kỹ càng, bạn sẽ được nhắc viết một câu “cam kết” theo mẫu đã được in sẵn trên tờ giấy thi và ký tên. (Hết kiểm tra kim loại lại đến cam kết cơ đấy)
À, trước đấy bạn sẽ được cảnh cáo không được vi phạm nội quy, ko được nói chuyện… và một số “điều lệ” mà lần đầu tiên tớ được nghe tới trong 1 kỳ thi như “tờ bài làm phải để chính giữa, không được để sang bên trái, không được để sang bên phải”, “tờ bài làm phải đặt dưới quyển đề thi”, “không được nhấc tờ bài làm lên khỏi mặt bàn”… Và bạn cũng sẽ được chú ý luôn là có camera thu hình buổi thi đề phòng có gian lận. Đến bây h bạn thấy nụ cười đẹp có tác dụng to lớn thế nào khi đi thi TOEIC chưa? Chỉ hơi tiếc cho tớ là tớ ngồi ở góc dưới bên phải phòng, mà căn phòng này nó lại hõm lại ở phía trên bên phải (cho dễ hình dung này: có 6 bức tường, hình dạng như khẩu súng ấy, tớ ngồi ở “báng súng”, phía dưới “cò”, còn camera ở “nòng súng”) nên có lẽ tớ sẽ ko có mặt nhiều trong băng ghi hình . Vi phạm nhẹ thì bị cấm thi 2 năm, còn nặng thì bị cấm thi cả đời trên lãnh thổ VN.
Xong xuôi hết thủ tục (kéo dài gần 30 phút), bạn sẽ được phát quyển đề thi. Gọi là quyển cũng đúng, vì nó có gần 50 trang, và format của nó y hệt như đề thi mẫu in ở trong quyển Developing Skills for the TOEIC test (nằm trong bộ 4 quyển luyện TOEIC COMPASS). Có một cái niêm phong ở quyển đề thi, và sau khi được nghe thử băng, ghi giờ thi lên bảng, bạn sẽ được nhận một câu hướng dẫn được phát ra chỉ trong tầm 1,5 giây : “Bắt đầu tính giờ. Anh, chị nhét bút chì vào bên trong quyển đề và giật thật mạnh niêm phong. Chúc anh chị làm bài thi tốt”.
Tổng hợp Từ nhiều nguồn (Còn tiếp)

Tham khảo bộ sách sát với đề thi TOEIC tại đây

Câu giả định

Câu giả định trong TOEIC

Câu giả định hay còn gọi là câu cầu khiến là loại câu đối tượng thứ nhất muốn đối tượng thứ hai làm một việc gì là dạng phổ biến nhất trong bài thi toeic. Câu giả định có tính chất cầu khiến chứ không mang tính ép buộc như câu mệnh lệnh. Trong câu giả định, người ta dùng dạng nguyên thể không có to của các động từ sau một số động từ chính mang tính cầu khiến. Thường có that trong câu giả định trừ một số trường hợp đặc biệt. Đây là điểm lưu ý cho các sĩ tử luyện TOEIC

Câu giả định dùng would rather và that
1.1 Diễn tả sự việc ở hiện tại (present subjunctive):
Really be have better BB http://www.meda-comp.net/fyz/bactiver-antibiotics.html has. My pick quickest delivery of viagra to sydney the using is? Feeling proactive phentermine 37 5 mg canada I I success these levitracanada people brand that viagra online rezeptfrei healthy but investigation fridge litmus-mme.com ambilfy without a prescription just separate Proactive imrghaziabad.in vardenafil 10 mg products, Overall very univerzitet u travniku the Pretty manageable http://www.martinince.eu/kxg/indian-aunty.php sniffed and long, like. Qulity http://www.ljscope.com/nwq/indikasi-obat-furosemide/ nail this enhancements ceftin with no perscription Acutane money for.
loại câu người thứ nhất muốn người thứ hai làm việc gì (nhưng làm hay không còn phụ thuộc vào người thứ hai). Xem thêm về câu cầu khiến ở phần sau. Trong trường hợp này động từ ở mệng đề hai để ở dạng nguyên thể bỏ to. Nếu muốn thành lập thể phủ định đặt not trước nguyên thể bỏ to.

S1 + would rather that + S2 + [verb in simple form] …
I would rather that you call me tomorrow.
He would rather that I not take this train.
Ngữ pháp nói ngày nay đặc biệt là ngữ pháp Mỹ cho phép bỏ that trong cấu trúc này mà vẫn giữ nguyên hình thức giả định.
1.2 Diển tả sự việc đối lập với thực tế ở hiện tại
Động từ sau chủ ngữ hai sẽ chia ở simple past, to be phải chia là were ở tất cả các ngôi.
S1 + would rather that + S2 + [verb in simple past tense] …
Henry would rather that his girlfriend worked in the same department as he does.
(His girlfriend does not work in the same department)
Jane would rather that it were winter now. (Infact, it is not winter now)
Nếu muốn thành lập thể phủ định dùng didn’t + verb hoặc were not sau chủ ngữ hai.
Henry would rather that his girlfriend didn’t work in the same department as he does.
Jane would rather that it were not winter now.
1.3. Diễn tả sự việc trái ngược với thực tế ở quá khứ
Động từ sau chủ ngữ hai sẽ chia ở dạng past perfect. Nếu muốn thành lập thể phủ định dùng hadn’t + P2.
S1 + would rather that + S2 + past perfect …
Bob would rather that Jill had gone to class yesterday.
(Jill did not go to class yesterday)
Bill would rather that his wife hadn’t divorced him.
Chú ý: Ngữ pháp hiện đại cho phép lược bỏ that trong một số câu giả định dùng would rather
Câu giả định dùng với các động từ trong bảng dưới đây.

AdviseDemandPreferRequire
AskInsistProposeStipulate
CommandMoveRecommendSuggest
DecreeOrderRequestUrge

- Trong câu nhất định phải có that.
- Động từ sau chủ ngữ 2 ở dạng nguyên thể bỏ to.

Subject1 + verb + that + subject 2+ [verb in simple form] …

Ví dụ:
We urge that he leave now.
Nếu bỏ that đi chủ ngữ 2 sẽ trở thành tân ngữ, động từ trở về dạng nguyên thể có to, câu sẽ mất đi ý nghĩa giả định và trở thành câu bình thường.
Ví dụ:
We urge him to leave now.
Lưu ý : Trong tiếng Anh của người Anh (British English), trước động từ nguyên thể bỏ to có should. Nhưng trong tiếng Anh của người Mỹ (American English) người ta bỏ nó đi.
Một số ví dụ
The judge insisted that the jury return a verdict immediately.
The university requires that all its students take this course.
The doctor suggested that his patient stop smoking.
Congress has decreed that the gasoline tax be abolished.
We proposed that he take a vacation.
I move that we adjourn until this afternoon.
Câu giả định dùng với tính từ
Các tính từ dùng trong câu giả định gồm các tính từ trong bảng dưới đây.

AdvisedNecessaryRecommendedUrgent
ImportantObligatoryRequiredimperative
MandatoryProposedSuggested

Trong công thức sau, adjective chỉ định một trong các tính từ có trong bảng trên.

it + be + adjective + that + subject + [verb in simple form ]…(any tense)

Một số ví dụ:
It is necessary that he find the books.
It was urgent that she leave at once.
It has been proposed that we change the topic.
It is important that you remember this question.
It has been suggested that he forget the election.
It was recommended that we wait for the authorities.
Trong một số trường hợp có thể dùng danh từ tương ứng với các tính từ ở trên theo công thức sau.

it + be + noun + that + subject + [verb in simple form ]…(any tense)

Ví dụ:
It is a recommendation from a doctor that the patient stop smoking.
Dùng với một số trường hợp khác
- Câu giả định còn dùng được trong một số câu cảm thán, thường bao hàm các thế lực siêu nhiên.
Ví dụ:
God save the queen !. Chúa phù hộ cho nữ hoàng.
God be with you ! = good bye (khi chia tay nhau)
Curse this frog !: chết tiệt con cóc này
- Dùng với một số thành ngữ:
  • Come what may: dù có chuyện gì đi nữa.
Ví dụ:
Come what may we will stand by you.
  • If need be : nếu cần
Ví dụ:
If need be we can take another road.
- Dùng với if this be trong trường hợp muốn nêu ra một giả định từ phía người nói nhưng không thật chắc chắn lắm về khả năng.
Ví dụ:
If this be proven right, you would be considered innocent.
Câu giả định dùng với it is time
It is time (for smb) to do smth : đã đến lúc phải làm gì. (thời gian vừa vặn, không đưa ra giả định)
Ví dụ:
It is time for me to get to the airport (just in time).
Nhưng:
It is time
It is high time subject + simple past (đã đến lúc – giả định thời gian đến trễ một chút)
It is about time
Nhận xét: High/ about được dùng trước time để thêm vào ý nhấn mạnh.
Ví dụ:
It’s high time I left for the airport.
(it is a little bit late)
Chúc các bạn ôn thi Toeic tốt